Tác giả: Nguyễn Tiến Hùng - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang.
Tóm tắt: Bài viết phân tích và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam sau sáp nhập. Trên cơ sở làm rõ các luận điệu xuyên tạc, bài viết khẳng định tính đúng đắn của chủ trương tinh gọn bộ máy từ góc độ lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế. Đồng thời, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh, củng cố niềm tin của nhân dân, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và thúc đẩy sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.
- Đặt vấn đề
Trong giai đoạn mới, Đảng ta xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là “đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân”. Đây là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong bối cảnh phát triển và hội nhập. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc tổ chức và vận hành bộ máy vẫn còn một số hạn chế; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được khắc phục triệt để. Lợi dụng những vấn đề này, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị cùng với một số kênh truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí đã gia tăng xuyên tạc, phủ nhận hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nhất là trong bối cảnh sáp nhập, sắp xếp bộ máy, nhằm gây hoài nghi và làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Vì vậy, việc nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.
2. Nội dung
2.1. Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch về hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị Việt Nam sau sáp nhập
Một là, xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về tiếp tục tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị sau sáp nhập.
Thực tiễn cho thấy, việc triển khai chủ trương tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị. Tuy nhiên, do đây là một quá trình lớn, phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành và tác động trực tiếp đến đội ngũ cán bộ, công chức nên việc tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy trong thời gian tới là tất yếu khách quan. Lợi dụng đặc điểm này, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị cùng với một số kênh truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí đã gia tăng xuyên tạc, bóp méo thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước. Chúng cố tình cắt xén, diễn giải sai lệch nội dung các nghị quyết, văn bản quan trọng, phủ nhận tính khoa học và thực tiễn của quá trình đổi mới tổ chức bộ máy.
Không dừng lại ở đó, các đối tượng này còn gán ghép, thổi phồng và suy diễn theo hướng tiêu cực, đưa ra những luận điệu như việc sáp nhập nhằm “thanh trừng phe cánh”, “tập trung quyền lực”, “che giấu tiêu cực”, hoặc cho rằng đây là những quyết định mang tính chủ quan, duy ý chí, phục vụ lợi ích nhóm, không phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng không gian mạng để phát tán thông tin sai sự thật, tạo dựng các “diễn đàn giả”, dẫn dắt dư luận, khai thác tâm lý băn khoăn của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy nhằm kích động hoài nghi. Những luận điệu này không chỉ gây nhiễu loạn thông tin mà còn hướng tới mục tiêu sâu xa là làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
Hai là, lợi dụng những khó khăn ban đầu khi vận hành một số khâu trong hệ thống chính trị sau sáp nhập để quy chụp, phủ nhận sự nỗ lực của cán bộ, đảng viên, nhân dân và hiệu quả hoạt động của bộ máy mới.
Với quyết tâm chính trị rất cao và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, việc triển khai mô hình chính quyền hai cấp sau sáp nhập đã được tổ chức thực hiện một cách khẩn trương, nghiêm túc và bước đầu đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, do đây là mô hình mới, liên quan đến việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và bố trí lại đội ngũ cán bộ nên trong giai đoạn đầu không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc nhất định cả về thể chế, cơ chế vận hành và nguồn nhân lực. Ở một số nơi còn xuất hiện tình trạng lúng túng trong tổ chức thực hiện, thiếu đồng bộ trong phối hợp, hoặc áp lực trong việc sắp xếp, bố trí cán bộ sau sáp nhập.
Lợi dụng những khó khăn mang tính tất yếu này, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị đã tìm cách khoét sâu, thổi phồng các hạn chế, vướng mắc, thậm chí khai thác các trường hợp cá biệt để quy chụp, phủ nhận toàn bộ nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy. Chúng đặc biệt tập trung vào những vấn đề nhạy cảm như tinh giản biên chế, việc làm, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức sau sắp xếp để kích động tâm lý bất mãn, tạo sự hoài nghi trong xã hội. Đồng thời, chúng xuyên tạc rằng bộ máy sau sáp nhập rơi vào tình trạng “thiếu hụt nhân sự”, “hoạt động kém hiệu quả”, “gây rối loạn quản lý”, từ đó phủ nhận tính đúng đắn của chủ trương tinh gọn bộ máy. Những luận điệu này không chỉ bóp méo bản chất của quá trình đổi mới mà còn nhằm gây chia rẽ nội bộ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với hệ thống chính trị.
Ba là, xuyên tạc, nói xấu, kích động đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị sau khi sáp nhập.
Công tác cán bộ giữ vị trí then chốt trong quá trình đổi mới, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, có tác động trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy. Đồng thời, đây cũng là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan đến lợi ích của nhiều cá nhân, tổ chức nên dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá. Thực tế, việc bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức sau sáp nhập được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc, tiêu chuẩn, quy định của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị lại cố tình xuyên tạc rằng quá trình này thiếu công tâm, khách quan, không thực hiện đúng tinh thần “vì việc chọn người”, từ đó làm sai lệch nhận thức của dư luận về công tác cán bộ.
Không dừng lại ở đó, chúng còn lan truyền các luận điệu sai trái như việc giải quyết chính sách đối với cán bộ dôi dư sau sáp nhập sẽ dẫn đến tình trạng “chảy máu chất xám”, làm mất đi đội ngũ cán bộ có năng lực, phẩm chất, trong khi những người ở lại bị quy chụp là kém năng lực hoặc là “con, cháu các cụ”, phải “chạy chọt, nhờ vả” mới được giữ lại trong bộ máy. Thông qua đó, chúng tìm cách gây chia rẽ nội bộ, làm suy giảm niềm tin của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đối với chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời kích động tâm lý hoài nghi, bất mãn trong xã hội. Những luận điệu này không chỉ bôi nhọ công tác cán bộ mà còn nhằm làm suy yếu nền tảng tổ chức của hệ thống chính trị từ bên trong.
Mục tiêu chống phá của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị là làm suy yếu vai trò của hệ thống chính trị sau sáp nhập, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, từ đó cản trở quá trình phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng sử dụng nhiều hình thức, biện pháp tinh vi, đặc biệt triệt để lợi dụng không gian mạng và các kênh truyền thông không chính thống để lan truyền thông tin sai lệch, tiêu cực. Đáng chú ý, chúng còn dàn dựng, cắt ghép nội dung, thậm chí ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) để tạo ra các video, hình ảnh giả mạo nhằm gây hoang mang dư luận, kích động chia rẽ nội bộ, từng bước làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước cũng như hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Những hoạt động này đã và đang gây ra tác động tiêu cực, làm nảy sinh tâm lý hoài nghi, dao động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng đến quyết tâm chính trị và sự đồng thuận xã hội trong quá trình triển khai các chủ trương, chính sách. Không chỉ dừng lại ở đó, các thông tin sai lệch còn tác động đến đời sống xã hội, môi trường đầu tư, kinh doanh và tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, việc nhận diện đầy đủ các âm mưu, thủ đoạn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả, bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.
2.2. Luận cứ, luận chứng đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch về hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị sau sáp nhập
Thứ nhất, từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Từ góc độ lý luận, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra sự cần thiết khách quan của việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống chuyên chính vô sản theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Trong tác phẩm “Thà ít mà tốt”, V.I.Lênin đã khẳng định: “Nhiệm vụ cấp thiết chủ yếu nhất trong lúc này, và cũng vẫn còn là nhiệm vụ quan trọng nhất trong những năm sắp tới, là không ngừng tinh giản bộ máy xô-viết và giảm bớt chi phí của nó bằng cách giảm nhẹ biên chế, cải tiến tổ chức, xoá bỏ tác phong lề mề hành chính, bệnh quan liêu và giảm bớt các khoản chi tiêu phi sản xuất”[1]. Trong quá trình xây dựng Nhà nước Xô-viết, V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc “thà ít mà tốt”, đồng thời phê phán những hạn chế như trình độ, năng lực yếu kém của một bộ phận cán bộ, cũng như tình trạng quan liêu, kém hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước. Vận dụng sáng tạo những quan điểm đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả, gắn với tinh giản bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Người chỉ rõ: “Các cơ quan chính quyền và đoàn thể, các cơ quan kinh tế và các Ủy ban, cần phải nâng cao năng suất, giảm bớt số người (tinh giản)”[2] nhằm mục đích “để bớt sự đóng góp cho dân và thêm lực lượng vào việc tăng gia sản xuất”[3]. Có thể khẳng định rằng, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống chính trị ở nước ta, đồng thời là cơ sở lý luận vững chắc để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận quan trọng nhằm đổi mới, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiêu biểu là Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và yêu cầu phát triển mới, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp tục ban hành nhiều kết luận quan trọng như: Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025; Kết luận số 126-KL/TW ngày 14/02/2025; Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025; Kết luận số 128-KL/TW ngày 07/3/2025; Kết luận số 150-KL/TW ngày 14/4/2025; cùng với Nghị quyết số 60-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Những văn bản này thể hiện sự nhất quán, liên tục và ngày càng hoàn thiện trong chủ trương của Đảng về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Quan điểm nhất quán của Đảng là: “Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp, các ngành đã thống nhất rất cao về chủ trương sắp xếp tinh gọn, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị”[4]. Trên cơ sở đó, Đảng ta xác định yêu cầu phải thường xuyên kiện toàn tổ chức, sắp xếp bộ máy từ Trung ương đến cơ sở theo hướng tinh gọn, hiệu quả; đồng thời cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, giảm chi thường xuyên và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, qua đó khẳng định tính đúng đắn của chủ trương và bác bỏ các luận điệu xuyên tạc.
Thứ hai, từ thực tiễn xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta.
Qua các giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần tiến hành đổi mới, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, trước khi đẩy mạnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, “bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệuilực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêuicầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, cònitrùng lắp, chồng chéo; phâniđịnh trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót hoặc không đầuitư thích đáng”[5]. Đây không phải là biểu hiện của sự “khủng hoảng” như các thế lực thù địch xuyên tạc, mà là những hạn chế khách quan cần được nhận diện đúng để tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn.
Đảng ta cũng chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế trên là “do mô hình tổng thể tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị chưa thật hoàn thiện; hệ thống thể chế về tổ chức bộ máy, biên chế, phân cấp, phân quyền chậm được điều chỉnh, bổ sung, ban hành và chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong thời kỳ mới; nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa thực sự đầy đủ, sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt”[6]. Bên cạnh đó, sức ỳ của thói quen hành chính cũ, tâm lý ngại thay đổi, cách làm cục bộ, khép kín ở một số nơi cũng làm cho quá trình đổi mới có lúc, có nơi chưa thật sự đồng bộ, quyết liệt. Chính vì vậy, việc sáp nhập, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp là yêu cầu khách quan, nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về tổ chức, khắc phục tình trạng chồng chéo, giảm tầng nấc trung gian và nâng cao trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan trong thực thi nhiệm vụ.
Thực tiễn bước đầu sau sáp nhập cho thấy, mô hình mới đã tạo chuyển biến tích cực trong hoạt động của hệ thống chính trị, nhất là ở cấp cơ sở. Việc giảm tầng nấc trung gian giúp quá trình chỉ đạo, điều hành nhanh hơn, trách nhiệm rõ hơn, nhiều thủ tục hành chính được rút ngắn, chi phí thời gian và chi phí thực hiện thủ tục của người dân, doanh nghiệp từng bước được cắt giảm. Cấp cơ sở không còn thụ động, trông chờ vào sự chỉ đạo từ cấp trên mà ngày càng chủ động hơn trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, giải quyết công việc phát sinh tại địa bàn. Nhiều địa phương đã đẩy mạnh chuyển đổi số, chuẩn hóa dữ liệu dân cư, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư, kết nối hạ tầng và mở rộng không gian phát triển. Những kết quả đó là cơ sở thực tiễn quan trọng để khẳng định tính đúng đắn của chủ trương sáp nhập, tinh gọn bộ máy, đồng thời bác bỏ các luận điệu quy chụp, phủ nhận hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị sau sáp nhập.
Thứ ba, từ yêu cầu học tập, tiếp thu kinh nghiệm thành công trong đổi mới hệ thống chính trị của các nước trên thế giới.
Đổi mới, tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị không chỉ là yêu cầu riêng của Việt Nam mà còn là xu hướng phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thực tiễn cho thấy, nhiều quốc gia đã tiến hành cải cách mạnh mẽ nền hành chính công, xây dựng bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, linh hoạt, thích ứng nhanh với những biến động của môi trường phát triển. Các nước như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản… đã triển khai thành công các chương trình cải cách toàn diện, từ tái cấu trúc tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế đến nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Điểm chung trong các mô hình này là sự kết hợp chặt chẽ giữa quyết tâm chính trị cao của lãnh đạo với việc thiết kế một chiến lược cải cách đồng bộ, có lộ trình rõ ràng và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia.
Bên cạnh đó, các quốc gia này đặc biệt chú trọng xây dựng hệ thống pháp luật minh bạch, nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước; đồng thời đề cao trách nhiệm giải trình và hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp. Chính những yếu tố này đã góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Từ góc độ đó có thể khẳng định, chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy của Đảng và Nhà nước ta hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của thế giới, không phải là hiện tượng cá biệt hay “bất thường” như các luận điệu xuyên tạc. Việc nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế sẽ giúp Việt Nam vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tiễn, qua đó đẩy nhanh quá trình xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển trong Kỷ nguyên mới.
Thứ tư, từ yêu cầu xây dựng, phát triển đất nước trong giai đoạn phát triển mới với những đòi hỏi ngày càng cao về năng lực quản trị quốc gia.
Sau 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực, tạo nền tảng vững chắc để bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu cao hơn, yêu cầu toàn diện hơn. Trong bối cảnh đó, việc nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và hiệu quả quản lý của Nhà nước trở thành đòi hỏi cấp thiết, gắn liền với việc xây dựng một hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Một bộ máy cồng kềnh, chồng chéo, kém linh hoạt sẽ khó có thể đáp ứng yêu cầu quản trị trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng và cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các quốc gia. Do đó, việc chậm trễ trong sắp xếp, tinh gọn bộ máy không chỉ làm giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị mà còn có nguy cơ làm suy giảm sức cạnh tranh quốc gia, bỏ lỡ các cơ hội phát triển và gia tăng khoảng cách với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Bên cạnh đó, yêu cầu tinh gọn bộ máy còn xuất phát từ kỳ vọng chính đáng của nhân dân về một hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu quả, thực sự phục vụ nhân dân. Việc sắp xếp, tinh gọn không chỉ nhằm giảm số lượng mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, qua đó giảm gánh nặng chi phí cho xã hội, nâng cao chất lượng dịch vụ công và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Đồng thời, đây cũng là giải pháp quan trọng để tháo gỡ các rào cản, khơi thông và phát huy tối đa các nguồn lực cho phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước có thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Từ đó có thể khẳng định, chủ trương tinh gọn bộ máy là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển, không thể trì hoãn hay phủ nhận.
2.3. Giải pháp đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch về hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị sau sáp nhập
Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, khẳng định tính đúng đắn của việc tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị Việt Nam sau sáp nhập.
Để bảo vệ và lan tỏa hiệu quả chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị, việc nâng cao nhận thức và tạo sự thống nhất, đồng thuận trong toàn hệ thống chính trị và xã hội giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đảng ta đã chỉ rõ: “Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện tốt công tác chính trị, tư tưởng, tạo sự thống nhất cao trong Đảng, trong hệ thống chính trị và sự đồng thuận trong Nhân dân về cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị”.
Công tác tuyên truyền, giáo dục cần tập trung làm rõ những lợi ích thiết thực của việc tinh gọn bộ máy sau sáp nhập, đặc biệt là những chuyển biến tích cực trong hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị đối với người dân và xã hội. Đồng thời, cần làm rõ mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ và giải pháp của chủ trương, cũng như quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước trong quá trình tổ chức thực hiện. Về hình thức, phương pháp cần đa dạng, linh hoạt, sáng tạo; phát huy hiệu quả các phương tiện truyền thông đại chúng, kết hợp với tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm, sinh hoạt chính trị - tư tưởng; đồng thời mở rộng việc lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân. Bên cạnh đó, cần chú trọng phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia, đồng bộ hóa các hệ thống phần mềm nghiệp vụ, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ cao, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong điều kiện mới.
Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện thể chế, cơ chế hoạt động; tăng cường kiểm tra, khắc phục triệt để những hạn chế, vướng mắc về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị sau sáp nhập.
Để chủ trương tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị sau sáp nhập được triển khai đồng bộ, hiệu quả, Đảng, Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật và các quy định cụ thể liên quan, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và phù hợp với tình hình thực tiễn. Trong đó, cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, đơn vị, tránh tình trạng chồng chéo, trùng lặp hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý, điều hành; xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu dùng chung, liên thông giữa các cấp, các ngành; từng bước hình thành nền hành chính số, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Người đứng đầu các cấp cần ban hành các quy định cụ thể về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm thực hiện dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của cấp uỷ, tổ chức đảng, tránh tùy tiện, cục bộ hoặc lợi dụng chủ trương vì mục đích cá nhân.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức, nhất là những đối tượng thuộc diện tinh giản hoặc phải chuyển đổi vị trí công tác, nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng, giúp họ ổn định cuộc sống và yên tâm công tác. Đồng thời, cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, kỹ năng thích ứng với môi trường làm việc mới, nhất là năng lực số cho đội ngũ cán bộ trong điều kiện đẩy mạnh chuyển đổi số. Cùng với đó, cần có cơ chế khuyến khích, khen thưởng, nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả, sáng tạo của các tập thể, cá nhân ở các địa phương. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện ở tất cả các cấp, các ngành nhằm kịp thời đánh giá kết quả, phát hiện và xử lý các sai phạm, tiêu cực; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan kiểm tra, giám sát của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Thứ ba, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận chủ trương tinh gọn bộ máy và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị sau sáp nhập.
Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và không gian mạng, việc chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị sau sáp nhập có ý nghĩa hết sức quan trọng. Các cấp ủy đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần quán triệt và thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong đó, cần thường xuyên theo dõi, kịp thời nhận diện đúng các quan điểm sai trái, thù địch; đồng thời xây dựng hệ thống luận cứ khoa học, sắc bén để đấu tranh phản bác. Đặc biệt, cần xây dựng lực lượng chuyên trách có bản lĩnh chính trị vững vàng, am hiểu sâu sắc lý luận và có kỹ năng số, kỹ năng truyền thông hiện đại; thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ, phân công rõ trách nhiệm giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương trong thu thập, phân tích, xử lý và chia sẻ thông tin, bảo đảm sự thống nhất, kịp thời và hiệu quả trong đấu tranh.
Bên cạnh đó, cần tăng cường sử dụng các nền tảng truyền thông hiện đại để chủ động lan tỏa thông tin chính thống, tích cực về chủ trương tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị. Không chỉ dừng lại ở phản bác, cần chuyển mạnh sang chủ động “dẫn dắt thông tin”, định hướng dư luận xã hội bằng các sản phẩm truyền thông có chất lượng cao, dễ tiếp cận, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Tận dụng hiệu quả mạng xã hội, các trang thông tin điện tử, báo chí, phát thanh, truyền hình để truyền tải thông tin nhanh chóng, chính xác, hấp dẫn. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống thông tin sai lệch, độc hại; nâng cao năng lực bảo vệ không gian mạng quốc gia; xây dựng thế trận thông tin vững chắc, kết hợp chặt chẽ giữa “phòng” và “chống”, giữa “xây” và “chống”, qua đó tạo thế chủ động tiến công trên không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong giai đoạn phát triển mới.
3. Kết luận
Tóm lại, chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị sau sáp nhập là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại. Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không làm thay đổi bản chất khoa học và thực tiễn của chủ trương này. Việc nhận diện đúng và đấu tranh phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố niềm tin của nhân dân, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và bảo đảm sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá XII Một số vấn đề- về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Hà Nội, 2017.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, (2 tập), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.
[1] V.I.Lênin toàn tập, tập 45, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 359.
[2] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 367.
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 7, tr. 164.
[4] Kết luận số 121-KL/TW, ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, tr.1.
[5] Báo Điện tử Chính phủ, Thứ Ba, ngày 05/11/2024 - 17:24, Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả.
[6] Kết luận số 121-KL/TW, ngày 24 tháng 01 năm 2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, tr.1.